Việt Nam - Campuchia hài hòa quản lý thị trường phân bón
Việt Nam và Campuchia đang đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, từng bước hài hòa chính sách quản lý thị trường phân bón, nâng cao chất lượng vật tư và chủ động chuỗi cung ứng.
Hài hòa khung pháp lý và định hướng phát triển xanh
Mới đây trong khuôn khổ buổi làm việc tại Viện lúa ĐBSCL (TP Cần Thơ) và chia sẻ kinh nghiệm quản lý nông nghiệp giữa Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật (Bộ NN-MT) cùng Đoàn đại biểu của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, ông Vũ Thắng – Phó Trưởng phòng Quản lý Phân bón đã trình bày nhiều đánh giá chuyên sâu về thực trạng thị trường phân bón, cơ chế chính sách hiện hành và các giải pháp đảm bảo an ninh vật tư nông nghiệp cho hai quốc gia.
Ông Vũ Thắng, Phó Trưởng phòng Quản lý Phân bón, Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật phát biểu, chia sẻ kinh nghiệm về công tác quản lý minh bạch và số hóa dữ liệu ngành phân bón tại Việt Nam với lãnh đạo Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Campuchia. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Đánh giá về hệ thống pháp luật ngành phân bón, ông Vũ Thắng khẳng định khung quy định hiện nay giữa Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc cũng như các quốc gia thuộc khối ASEAN đã đạt được độ tương đồng và hài hòa rất lớn. Thành quả này là kết quả của tiến trình nỗ lực nghiên cứu, chủ động tiệm cận các quy chuẩn chung của khu vực trong suốt gần một thập kỷ qua.
Các khâu then chốt như kiểm soát danh mục sản phẩm đăng ký lưu hành hay quản lý hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước đều ghi nhận sự tương thích rõ rệt. Điểm khác biệt kỹ thuật đáng chú ý nhất hiện nay nằm ở quy định quản lý nhãn hàng hóa: Việt Nam đã tinh giản thủ tục bằng cách loại bỏ bước nộp mẫu nhãn ngay khi đăng ký đối với vật tư nhập khẩu và sản xuất nội địa.
Trong khi đó, các cơ quan chức năng tại Campuchia và Trung Quốc vẫn duy trì quy trình kiểm tra nhãn nghiêm ngặt ngay từ bước tiếp cận thị trường ban đầu.
Về năng lực cung ứng, Việt Nam hiện đã hoàn toàn chủ động được nguồn phân Urea, phân Lân (nhờ lợi thế nguồn quặng sẵn có) cùng các dòng phân hỗn hợp NPK, đồng thời xuất khẩu ổn định sang nhiều thị trường quốc tế. Tuy nhiên, cũng giống như Campuchia, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 100% nhu cầu phân Kali.
TS Seng Vang (ảnh giữa), Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên đất và Phân bón, Tổng cục Nông học, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia, tham quan, kiểm tra thực tế hệ thống kho bãi và quy trình bảo quản vật tư nông nghiệp tại HTX Dịch vụ Phú Nông Xanh, tỉnh An Giang. Ảnh: Lê Hoàng Vũ
Trước nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng do diễn biến địa chính trị phức tạp tại Trung Đông và các vùng xung đột vừa qua, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật khuyến nghị hai quốc gia cần tập trung vào hai trụ cột: chuyển đổi sang phân bón hữu cơ - sinh học nhằm giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp đôi bên ký kết các hợp đồng mua bán dài hạn để bảo đảm nguồn cung và ổn định giá cả.
Hiện tại, trong hơn 29.000 sản phẩm phân bón được cấp phép tại Việt Nam, phân hữu cơ và vi sinh đã chiếm khoảng 30%.
Minh bạch hóa dữ liệu và tạo thuận lợi thương mại
Một trong những dấu ấn nổi bật trong công tác quản lý phân bón tại Việt Nam là cơ chế cấp Mã số phân bón. Được áp dụng đồng bộ từ năm 2017 đến nay, mỗi sản phẩm phân bón lưu hành trên thị trường đều gắn liền với một mã số định danh duy nhất. Toàn bộ dữ liệu này được công khai minh bạch trên cổng thông tin trực tuyến của Cục.
Các chuyên gia nông nghiệp hai nước cùng nông dân ra đồng kiểm tra chất lượng lúa, đánh giá hiệu quả thực tế của các dòng phân bón được gia công, sản xuất chuyên biệt cho thổ nhưỡng địa phương. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Thông qua công cụ số hóa này, cơ quan chức năng, doanh nghiệp và bà con nông dân, bao gồm cả người tiêu dùng tại Campuchia khi sử dụng phân bón nhập khẩu từ Việt Nam đều có thể dễ dàng truy xuất nguồn gốc, thông tin nhà sản xuất và các chỉ tiêu chất lượng đã công bố. Điều này đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn phân bón giả, kém chất lượng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Việt Nam cũng đang khẩn trương hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về phân bón để cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính dư thừa.
Ở khâu thương mại song phương, phía Việt Nam luôn duy trì các chính sách cởi mở. Các doanh nghiệp trong nước được phép gia công, sản xuất theo đơn đặt hàng riêng của đối tác Campuchia ngay cả khi sản phẩm đó chưa đăng ký lưu hành nội địa. Khi phía đối tác yêu cầu Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS), thủ tục này đã được phân cấp giải quyết nhanh gọn tại 34 tỉnh, thành phố.
Ông Vũ Thắng bày tỏ kỳ vọng hai bên sẽ tiếp tục mở rộng các đợt khảo sát thực địa, trao đổi chuyên môn để thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác nông nghiệp bền vững Việt Nam - Campuchia.
TS Seng Vang, Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên đất và Phân bón, Tổng cục Nông học, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Campuchia cho biết: Phân bón Việt Nam đang chiếm tới 80% lượng phân bón sử dụng ở thị trường Campuchia. Những Công ty Việt Nam xuất khẩu phân bón nhiều nhất sang Campuchia hiện nay là Phân bón Bình Điền, Đạm Cà Mau...
Phân bón Việt Nam đang chiếm tới 80% lượng phân bón sử dụng ở thị trường Campuchia. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, về thương mại quốc tế, urê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cùng với NPK và DAP, chủ yếu sang thị trường Campuchia, Hàn Quốc, Malaysia và Lào. Hiện nhu cầu urê trong nước khoảng 1,8 triệu tấn/năm, trong khi năng lực sản xuất đạt khoảng 2,6 triệu tấn. Phần công suất vượt nhu cầu nội địa tạo dư địa cho xuất khẩu khi giá thế giới và nhu cầu quốc tế thuận lợi.
TS Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết: doanh nghiệp phân bón hiện không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế. Một số sản phẩm như urê và supe lân đã có năng lực sản xuất vượt nhu cầu trong nước, doanh nghiệp phải đẩy mạnh xuất khẩu để duy trì công suất nhà máy. Tuy nhiên, việc tiếp tục áp dụng thuế xuất khẩu trong khi nhiều quốc gia cạnh tranh không đánh thuế sẽ làm giảm lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam.
Lê Hoàng Vũ







